Những giới hạn này không chỉ phản ánh “độ trễ công nghệ”, mà còn cho thấy sự thiếu gắn kết giữa tư duy pháp lý truyền thống và mô hình kinh tế số hiện đại.
Một số hạn chế
Nghị quyết Chính phủ 05 được đánh giá là “Chìa khóa” phát triển thị trường tài sản mã hóa Việt Nam. Nghị quyết Chính phủ 05 là một dấu mốc lịch sử, đặt nền tảng để thị trường tài sản mã hoá tại Việt Nam chính thức đi vào hoạt động. Cùng với Luật Công nghiệp Công nghệ số, Danh mục Công nghệ Chiến lược, Chiến lược Blockchain Quốc gia và Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về Đổi mới sáng tạo, có thể nói hành lang pháp lý cơ bản cho thị trường tài sản số Việt Nam đã được hình thành.

Chính phủ ban hành Nghị quyết 05/2025/NQ-CP được xem là bước ngoặt quan trọng trong quản lý tài sản mã hóa. Ảnh minh họa
>>Việt Nam sắp có sàn giao dịch tiền số đầu tiên
Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, pháp luật mới chỉ quy định nguyên tắc, chưa hình thành được cơ chế vận hành cụ thể cho thị trường tài sản số. Hiện nay, để cụ thể hóa Nghị quyết, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định 96/QĐ-BTC ngày 20/1/2026, công bố 3 thủ tục hành chính mới gồm cấp giấy phép, điều chỉnh giấy phép và thu hồi giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa. Đây là những “cánh cửa” pháp lý đầu tiên cho doanh nghiệp muốn tham gia sân chơi mới. Nhưng chưa có quy định cụ thể, chi tiết về điều kiện, trình tự và thẩm quyền về phát hành hoặc lưu ký tài sản số, cũng như về quy chuẩn kỹ thuật để bảo đảm an toàn, bảo mật và truy vết giao dịch. Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 công nhận tài sản số là tài sản, nhưng chưa thiết lập các tiêu chí xác định quyền sở hữu, quyền định đoạt, hay cơ chế bảo vệ trong tranh chấp dân sự.
Bên cạnh đó, vẫn có sự thiếu thống nhất giữa Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 và Bộ luật Dân sự năm 2015, gây khó khăn cho việc xác định địa vị pháp lý của tài sản số. Điều 105, Bộ luật Dân sự năm 2015, vẫn dựa trên quan niệm tài sản mang tính vật chất hoặc quyền tài sản cụ thể, chưa bao quát dạng tài sản phi vật thể được tạo lập bằng công nghệ số. Điều này dẫn đến hệ quả pháp lý, nhiều vụ tranh chấp về quyền sở hữu đối với tiền mã hóa, mã thông báo, v.v, bị Tòa án từ chối thụ lý vì “đối tượng tranh chấp không được pháp luật công nhận”. “Khoảng trống” này không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà còn là vấn đề lý luận pháp lý, khi Việt Nam chưa có quan điểm rõ ràng về “tài sản phi vật thể kỹ thuật số”.
Kế tiếp, pháp luật thuế và kế toán chưa thích ứng với đặc tính của tài sản số. Các quy định hiện hành vẫn áp dụng nguyên tắc chung của thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, nhưng thiếu phương pháp định giá, xác minh và truy xuất giao dịch do đặc trưng phi tập trung, ẩn danh của blockchain. Điều này vừa gây khó khăn trong công tác quản lý; vừa tiềm ẩn nguy cơ thất thu lớn cho ngân sách nhà nước.
Chúng tôi nhận thấy ngoài ra, hệ thống xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật. Hành vi chiếm đoạt tài sản số chỉ có thể bị xử lý gián tiếp qua các tội danh như “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hoặc “kinh doanh đa cấp trái phép”, trong khi bản chất vi phạm mang tính công nghệ xuyên biên giới. Việc chưa có tội danh riêng cho hành vi thao túng giá, chiếm đoạt mã khóa hay gian lận blockchain cho thấy “khoảng trống” chế tài đặc thù, làm suy yếu năng lực răn đe và bảo vệ niềm tin thị trường.
Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025, chưa được kết nối đồng bộ với các đạo luật nền tảng như Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Luật Giao dịch điện tử năm 2023, các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng và hình sự. Định nghĩa “tài sản” trong Bộ luật Dân sự năm 2015 thiên về yếu tố vật chất, chưa bao quát được các giá trị phi vật thể như dữ liệu, phần mềm hay mã thông báo. Trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chưa quy định cho phép sử dụng tiền ảo làm phương tiện thanh toán, nhưng không quy định “cấm”; tình trạng “chưa được điều chỉnh” này cho thấy pháp luật còn chậm thích ứng với thực tiễn.
Cùng với đó, Việt Nam chưa công nhận hiệu lực pháp lý của hợp đồng thông minh (smart contract) là một cấu phần trung tâm trong giao dịch tài sản số. Chúng ta vẫn còn thiếu quy định về điều kiện có hiệu lực, thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ làm cho các hợp đồng được thực thi tự động bằng mã lệnh không có cơ chế bảo vệ khi xảy ra sự cố hoặc tranh chấp. Đây là điểm yếu thể chế lớn đối với Việt Nam, đặc biệt, khi các quốc gia khác trên thế giới như Anh, Singapore và Nhật Bản đã chính thức thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng thông minh từ năm 2022.
Như vậy, những hạn chế trên phản ánh “độ trễ” của pháp luật so với công nghệ, cho thấy yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện pháp luật để bảo đảm tính đồng bộ giữa Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 với các luật có liên quan. Chỉ khi có hệ thống pháp luật thống nhất, minh bạch và điều chỉnh toàn bộ vòng đời của tài sản số, từ tạo lập, định danh, giao dịch, thuế cho đến giải quyết tranh chấp, v.v; thì Việt Nam mới có thể hình thành thị trường tài sản số an toàn, hợp pháp và bền vững.
Cuối cùng, chúng tôi muốn nhấn mạnh vấn đề trọng tâm của thị trường số không ở từ “số” mà là vấn đề “tài sản”. Khi đã là tài sản, nó phải mang đầy đủ tính chất pháp lý. Phần “số” chỉ là môi trường để tài sản ấy được lưu trữ và vận hành. Điều này có nghĩa, tài sản số về bản chất phải là tài sản thật, được định danh và bảo hộ bởi pháp luật, thay vì chỉ là những giá trị ảo được tạo ra từ những thuật toán thiếu căn cứ trên thị trường.
Sự khác biệt lớn nhất nằm ở khả năng xác thực. Trong môi trường truyền thống, sự tin tưởng dựa trên sự hiện diện trực tiếp và các giấy tờ hữu hình. Còn khi On-chain, mọi thứ “chạy tứ phía” và không thể chạm tay, niềm tin phải được xây dựng bằng các thuật toán minh bạch và sự giám sát chặt chẽ từ hành lang pháp lý. Để hiện thực hoá điều này, phải đáp ứng hai điều kiện tiên quyết: Một là có quyền tài sản, được công nhận; hai là nằm trong hệ sinh thái đầy đủ, gồm đơn vị phát hành, đơn vị tư vấn phát hành và đơn vị lưu ký, thông thường là các ngân hàng hoặc các doanh nghiệp được cấp phép hoạt động, để bảo quản tài sản thực và đảm bảo tính thanh khoản.
Bước ngoặt mới của thị trường
Theo thông tin chúng tôi được biết, hiện Bộ Tài chính đang từng bước cụ thể hóa khuôn khổ pháp lý; đồng thời xúc tiến các thủ tục quản lý cần thiết nhằm bảo đảm thị trường vận hành có kiểm soát, minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Thị trường đang chờ đợi công bố doanh nghiệp đầu tiên dự kiến trong nhóm 5 doanh nghiệp đáp ứng điều kiện theo bộ tiêu chí và quy trình cấp giấy phép với hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa của Bộ Tài chính. (Ảnh minh họa)
Đáng chú ý ho biết đã tiếp nhận 7 hồ sơ đề nghị cấp giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa. Hiện nay, các hồ sơ này đang được Bộ rà soát sơ bộ trước khi gửi lấy ý kiến thẩm định của Bộ Công an và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, theo đúng quy trình liên ngành đã được thiết kế trong giai đoạn thí điểm.
Thị trường thực tế cũng không chỉ có sự hạn chế số lượng công ty đạt vốn tối thiểu theo quy định (10.000 tỷ đồng). Chúng tôi được biết đã có những công ty đạt mức vốn này.
Đồng thời, việc thiết lập hệ thống xếp hạng tín nhiệm riêng cho các đơn vị vận hành sàn giao dịch; Chỉ những đơn vị đạt mức tín nhiệm cao, có hệ thống dự trữ thanh khoản minh bạch mới được phép tiếp nhận tiền của nhà đầu tư cũng đã bắt đầu có những bước khởi động hiệu quả.Và đây là những điều kiện tiền đề để thị trường tài sản số của Việt Nam cần sớm được hình thành, vận hành thí điểm theo lộ trình.
Có thể nói, thí điểm thị trường tài sản mã hóa không chỉ là câu chuyện của một kênh đầu tư mới, mà còn là phép thử năng lực thể chế trong thời đại số. Trong dòng chảy kinh tế số, tài sản mã hóa đang dần trở thành một lớp tài sản mới tác động trực tiếp đến quản trị rủi ro, cấu trúc thị trường vốn và năng lực cạnh tranh quốc gia; đi đôi với việc khơi thông động lực tăng trưởng mới của cả nền kinh tế quốc gia.
Nếu trước đây giá trị chủ yếu được đo bằng tiền tệ, chứng khoán hay bất động sản, thì nay dữ liệu, quyền sở hữu và các dòng tiền có thể được “đóng gói” dưới dạng mã kỹ thuật số, chia nhỏ và giao dịch gần như tức thời. Với những bước tiến hiện nay, có thể nói thị trường Việt Nam đã có bước ngoặt quan trọng khi Nhà nước bắt đầu định danh và thiết kế cơ chế quản trị, qua đó chuyển dịch từ trạng thái “quan sát” sang “thí điểm có kiểm soát” – một lựa chọn chính sách nhằm vừa khơi thông động lực tăng trưởng mới, vừa hạn chế rủi ro hệ thống.
>>Ngoài vàng, chứng khoán, tiền số, nhiều nhà đầu tư đang quan tâm kênh bất động sản. Xem các dự án tiềm năng
Join The Discussion